So sánh thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa theo luật đất đai 2003 và 2013 ?

Câu hỏi được chỉnh sửa từchuyên mục hỏi đáp luật phápcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Đất đai năm 2013

Luật Đất đai năm 2003

2. Nội dung giải đáp:

Câu hỏi của game thủ, chúng tôi xin giải đáp như sau:

Theo quy định của Điều 136 của Luật Đất đai 2003: Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND xã, phường, đô thị mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng tình thì được giải quyết như sau:

Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy công nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy má quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về của cải gắn liền với đất thì do Toà án quần chúng giải quyết;

Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy công nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy má quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

Trường phù hợp Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, đô thị thuộc thức giấc giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại tới Chủ tịch UBND thức giấc, đô thị trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch UBND thức giấc, đô thị trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết chung cuộc.

Trường phù hợp Chủ tịch UBND thức giấc, đô thị trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại tới Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết chung cuộc.

Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án chỉ giới hạn trong khuôn khổ các tranh chấp mà đương sự có giấy công nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy má quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này. Đối với người dân, khi có tranh chấp về đất đai mà không có giấy công nhận và hoặc các giấy má theo quy định thì cũng không có quyền tuyển lựa cơ quan giải quyết nào khác ngoài UBND và cơ quan quản lý quốc gia về khoáng sản không gian.

Thực tế cho thấy các tranh chấp về đất đai khá tinh vi, khác lạ là với các tranh chấp mà đương sự không có giấy công nhận. Do đó, việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan hành chính còn nhiều bất cập do khối lượng công việc lớn, trình độ luật pháp của cán bộ tham vấn, giải quyết còn hạn chế. Đây có thể coi là một duyên do dẫn tới tình trạng khiếu kiện kéo dài về đất đai trong nhiều năm qua.

Mở rộng thẩm quyền của Tòa án

Theo quy định tại khoản 1 điều 203 Luật Đất đai 2013 thì tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy công nhận hoặc có một trong các loại giấy má quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về của cải gắn liền với đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 203: Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy công nhận hoặc không có một trong các loại giấy má quy định tài Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn đề nghị UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Như vậy, so với quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 (về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án), thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai 2013 được mở mang hơn nhiều. Đối với các tranh chấp mà đương sự không có giấy công nhận hoặc không có một trong các loại giấy má quy định tài Điều 100 của Luật Đất đai 2013, ngoài cơ quan quản lý hành chính, người dân còn có quyền tuyển lựa Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp. Quy định nào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong giải quyết tranh chấp, giảm sức ép cho cơ quan hành chính quốc gia và góp phần hạn chế tình trạng khiếu nại, tố giác kéo dài trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 203 và Điều 204 Luật Đất đai 2013 thì đối với quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai 2013; quyết định hành chính, hành vi hành vi hành chính về quản lý đất đai quy định tại Điều 204 Luật Đất đai 2013 mà đương sự không đồng ý thì họ có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của luật pháp về tố tụng hành chính.

Cụ thể, Khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định: Trường phù hợp đương sự tuyển lựa giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hành như sau:

Trường phù hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng cư dân với nhau thì Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại tới Chủ tịch UBND cấp thức giấc hoặc khởi kiện tại Tòa án quần chúng theo quy định của luật pháp về tố tụng hành chính;

Trường phù hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là đơn vị, cơ sở tôn giáo, người vn định cư ở nước ngoài, đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban quần chúng cấp thức giấc giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại tới Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án quần chúng theo quy định của luật pháp về tố tụng hành chính;

Điều 204 (Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai) quy định: Người sử dụng đất, người có lợi quyền và bổn phận tương tác tới sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hành theo quy định của luật pháp về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hành theo quy định của luật pháp về tố tụng hành chính.

Như vậy, có thể thấy điểm dị biệt lớn nhất trong quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong Luật đất đai 2013 và 2003 là ở khuôn khổ thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Luật mới đã có sự mở mang hơn , đem lại nhiều sự tuyển lựa cho người dân khi có tranh chấp về đất đai tạo thuận lợi hơn cho họ vì giờ đây sẽ không chỉ giới hạn là cơ quan quản lý hành chính mà còn có quyền tuyển lựa cơ quan Tòa án để giải quyết tranh chấp. Không chỉ vậy, Luật còn chuẩn y trường phù hợp giả quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của củ tịch UBND thức giấc thì chủ toạ UBND thức giấc có thể ủy quyền cho cơ quan khoáng sản không gian cùng cấp, quy định này cũng làm giảm sút gánh nặng công việc cho các cơ quan quản lý. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng công việc cũng như tạo ra sự đồng bộ trong chuỗi hệ thống các cơ quan quốc gia bảo đảm nguyên lý tụ hội dân chủ trong giải quyết công việc.

Trân trọng./.

Bộ phận tham vấn luật pháp đất đai – Công ty luật Minh Khuê