Tư vấn về tranh chấp đất đai theo luật đất đai?

1- phân loại tranh chấp đất đai

2- vai trò, ý nghĩa của tranh chấp đất đai

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: buithithu…@gmail.com

Câu hỏi được chỉnh sửa từ Chuyên mục tham mưu luật pháp đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tham mưu luật pháp đất đai: 1900 6162

Trả lời:

Chào người chơi! Cảm ơn người chơi đã gửi câu hỏi tới thư mục tham mưu của đơn vị Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của người chơi chúng tôi xin giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai 2013.

Nội dung giải đáp:

Theo Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2014: 24. Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, bổn phận của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.

Việc giải quyết tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 202 và 203 Luật Đất đai 2013:

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai duyệt hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn tới Ủy ban dân chúng cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban dân chúng cấp xã có nghĩa vụ đơn vị việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình đơn vị thực hành phải kết thích hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc vietnam cấp xã và các đơn vị thành viên của Mặt trận, các đơn vị xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hành trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có công nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban dân chúng cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi tới các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban dân chúng cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường thích hợp hòa giải thành mà có đổi thay hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban dân chúng cấp xã gửi biên bản hòa giải tới Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường thích hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng cư dân với nhau; gửi tới Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường thích hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban dân chúng cùng cấp quyết định công nhận việc đổi thay ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng thực quyền sử dụng đất, quyền chãn hữu hữu nhà đất và của cải khác gắn liền với đất.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban dân chúng cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng thực hoặc có một trong các loại giấy má quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về của cải gắn liền với đất thì do Tòa án dân chúng giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng thực hoặc không có một trong các loại giấy má quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được chọn lựa một trong hai cơ giễu cợt giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn đề nghị giải quyết tranh chấp tại Ủy ban dân chúng cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án dân chúng có thẩm quyền theo quy định của luật pháp về tố tụng dân sự;

3. Trường thích hợp đương sự chọn lựa giải quyết tranh chấp tại Ủy ban dân chúng cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hành như sau:

a) Trường thích hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng cư dân với nhau thì Chủ tịch Ủy ban dân chúng cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại tới Chủ tịch Ủy ban dân chúng cấp tỉnh giấc hoặc khởi kiện tại Tòa án dân chúng theo quy định của luật pháp về tố tụng hành chính;

b) Trường thích hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là đơn vị, cơ sở tôn giáo, người vietnam định cư ở nước ngoài, đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban dân chúng cấp tỉnh giấc giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại tới Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án dân chúng theo quy định của luật pháp về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thực hiện phải được các bên tranh chấp nghiêm trang thực hiện. Trường thích hợp các bên không thực hiện sẽ bị cưỡng giễu cợt thực hiện.

Trên thực tiễn, tranh chấp đất đai có nhiều dạng khác nhau. Nhưng nhìn thông thường, tranh chấp đất đai được chia thành các dạng như sau:

1. Tranh chấp quyền sử dụng đất: Là tranh chấp giữa các bên về việc ai có quyền sử dụng thích hợp lí mảnh đất đó. Thường gồm những dagj nhỏ, như tranh chấp ranh giới đất, tranh chấp quyền sử dụng đất, của cải gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế, ly hôn; tranh chấp đòi lại đất đã cho mượn, cho thuê…

2. Tranh chấp về quyền, bổn phận nảy sinh trong quá trình sử dụng đất: thường xảy ra giữa các chủ thể có các giao thiệp khăng khăng về đất, như bồi hoàn phóng thích mặt bằng, tái định cư…

3. Tranh chấp về mục tiêu sử dụng đất: là tranh chấp trong việc xác định mục tiêu sử dụng đất là gì, thường nảy sinh do người sử dụng đất sử dụng sai mục tiêu đất được giao, cho thuê.

Về vai trò và ý nghĩa của việc tranh chấp đất đai:

Hiện nay, tranh chấp đất đai là những vụ việc không hãn hữu chạm mặt trong việc giải quyết các vấn đề về đất đai. Nhìn thông thường, tranh chấp đất đai có ý nghĩa như sau:

1. Xác định chính xác các nguyên tố ảnh hưởng tới diện tich đất đang bị tranh chấp (ai là người có quyền sử dụng đất thích hợp lí, quyền và bổn phận của các chủ thể ảnh hưởng…).

2. Thông qua việc xác định các nguyên tố trên, cơ quan có thẩm quyền có thể biết được tình trạng đất đai ngày nay, có cách giải quyết thích thích hợp với quy định của luật pháp đất đai. Từ đó giải quyết được việc tranh chấp đất đai giữa các chủ thể.

3. Qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan có thẩm quyền và Nhà nước có thể thấy được những vướng mắc, bất cập trong giễu cợt độ đất đai hiện hành, dẫn tới tranh các tranh chấp trên thực tiễn. Ví dụ như việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa triệt để, nhiều quy mô đất được quy hoạch nhưng chưa tiến hành thực hành dự án, gây hiện tượng quy hoạch treo; hoặc công việc bồi hoàn, phóng thích mặt bằng, hỗ trợ tái định cư còn chưa thỏa đáng, dẫn tới người dân khiếu kiện, đòi giữ đất..

4. Từ việc giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước có giễu cợt độ điều chỉnh quy định luật pháp đất đai thích thích hợp với thực tiễn, nhằm hạn giễu cợt các tranh chấp về đất đai. Từ đó xây đắp chuỗi hệ thống quy phạm luật pháp đất đai đồng bộ, hiệu quả; không chỉ riêng luật đất đai mà còn cả các quy định ảnh hưởng như giải quyết khiếu nại, tố giác về đất đai, giải quyết việc bồi hoàn, phóng thích mặt bằng…

Trên đây là những tham mưu của chúng tôi về vấn đề của người chơi. Cảm ơn người chơi đã chọn lựa đơn vị Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT – CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.