Về việc đền bù đất nông nghiệp ?

Cách đây mấy 04 tuần, có 1 công ty họ về quê tôi lấy đất ruộng ( Người dân chúng tôi không biết công ty đó bản chất là ai), chỉ nghe cán bộ xã nói là công ty lấy đất để trồng rau sạch. Và họ trả người dân với giá 84tr/ sào (360m2). Và khi làm thủ tục để lấy tiền thì có rất nhiều vấn đề xảy ra mà người dân bị mất rât nhiều lợi quyền:

– Doạnh nghiệp họ chỉ biết mua tổng quy mô đất ví dụ (20ha) và trả tiền cho xã là 20 ha nhưng bản chất cán bộ xã chỉ phải trả cho người dân tầm 15 ha còn lại 5ha là bờ ruộng+ đường đi+ kênh mương+ ruộng hoang,…Những quy mô đó có thuộc quyền chiếm giữ hữu của người dân không?

2 – Ngày xưa khi quốc gia chia ruộng cho dân cày,ví dụ quy mô thực của thửa ruộng đó là (400m2/ 1 sào), nhưng ngày xưa người dân cày phải đóng thuế ruộng nên chỉ dám khai vào quy mô trong sổ lưu bên xã là (360m2=1 sào) để được giảm tiền thuế ruộng. Bây giờ công ty họ lấy ruộng người dân chúng tôi đề xuất đo đạc lại quy mô thực của thửa ruộng thì cán bộ xã bảo không được, vì ngày xưa như thế nào thì để im như vậy. Luật sư cho hỏi thế có đúng không, và số quy mô thừa đó(400-360=40m2) thuộc quyền chiếm giữ hữu của ai hay của xã?

3 – Khi họp dân, chủ toạ xã có nói những ruộng nương nào mà ai tan vỡ hoang nhưng không có tên trong sổ sách thì được hưởng 20% số tiền so với người có sổ sách, khi chúng tôi hỏi thế số quy mô thừa của người dân ( như ví dụ trên là 40m2) thì có được tính là tan vỡ hoang và được nhận 20% không thì chủ toạ xã không nói gì. Luật sư cho hỏi thế có đúng với luật pháp không?

4- Nhà tôi và rất nhiều người dân khác gặp phải trường phù hợp, ngày xưa cán bộ xã làm ăn tắc trách, không biên chép ruộng nhà tôi vào sổ và hiện thời ruộng nhà tôi và rất nhiều người khác bị cho là tan vỡ hoang và ngùi ngùi chỉ được nhận tiền với số tiền là 20% của 84tr. Mặc dù ruộng đó là của gia đình chúng tôi được quốc gia chia cho từ đời các cụ rồi. Nhưng 1 câu hỏi đặt ra là nếu cán bộ xã cố tình gạch tên của chúng tôi đi thì sao? và công ty khi mua đất họ trả tiền bằng nhau hết, cớ sao xã lại có cái quy định ruộng hoang thì chỉ được 20%, còn 60% thì ai được? Năm vừa rồi người dân chúng tôi bị công ty lấy mấy chục ha đất, còn 48ha nữa sẵn sàng lấy, nhưng cứ như cái quy định này thì người dân bị mất hết lợi quyền mà cán bộ xã thì ăn quá nhiều. Rất mong trạng sư có sự can thiệp kịp thời để sắp tới nếu có lấy 48ha nữa của dân cày ( mà kiên cố sẵn sàng lấy) thì người dân được hưởng lợi quyền quang minh chính đại và cho người dân đỡ bức xúc.

Tôi xin thực tình cảm ơn!

Câu hỏi được chỉnh sửachuim mục tham vấn luật đất đaicủa Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tham vấn luật đất đai trực tuyến gọi:1900 6162

Trả lời:

Chào người chơi,Cảm ơn người chơi đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề xuất tham vấn luật tới Bộ phận trạng sư tham vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của người chơi đã được hàng ngũ trạng sư của Chúng tôi nghiên cứu và tham vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

Luật đất đai 2013

Nghị định 47/2014/NĐ-CP

II. Nội dung

Thứ nhất, về tổng quy mô đất bồi hoàn.

Theo quy định của luật pháp, việc xác định tiền bồi hoàn đất cho dân được xác định trên quy mô đất sử dụng và giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh giấc quy định tại thời điểm bồi hoàn. Như vậy, tổng quy mô đất tính tiền bồi hoàn đất cho dân là tổng quy mô đất nông nghiệp của các hộ dân, số quy mô đất còn lại là bờ kè, kênh mương, đường đi, sẽ thuộc quyền quản lý của quốc gia. Có nghĩa là, số tiền bồi hoàn cho 5ha đất còn lại thuộc nguồn thu ngân sách địa phương, đó chính là số tiền đầu tư cho công việc thủy lợi, liên lạc mà chính quyền địa phương đã chi trước đó.

Thứ hai, về quy mô đất nông nghiệp sử dụng thực.

Điều 12 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về vấn đề này như sau:

Điều 12. Bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường phù hợp quy mô đo đạc thực tiễn khác với quy mô ghi trên giấy má về quyền sử dụng đất

Trường phù hợp thu hồi đất mà quy mô đo đạc thực tiễn khác với quy mô ghi trên giấy má về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 04 tuần 5 năm 2014 của Chính phủ quy định cụ thể chấp hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) thì được bồi hoàn theo quy định sau đây:

1. Nếu quy mô đo đạc thực tiễn nhỏ hơn quy mô ghi trên giấy má về quyền sử dụng đất thì bồi hoàn theo quy mô đo đạc thực tiễn.

2. Nếu quy mô đo đạc thực tiễn nhiều hơn quy mô ghi trên giấy má về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đó thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đó người sử dụng đất không kê khai hết quy mô nhưng tổng thể ranh giới thửa đất đã được xác định là không đổi thay, không có tranh chấp với những người sử dụng lục địa kề, không do lấn, chiếm giữ thì bồi hoàn theo quy mô đo đạc thực tiễn.

3. Nếu quy mô đất đo đạc thực tiễn nhiều hơn quy mô ghi trên giấy má về quyền sử dụng đất, được Ủy ban dân chúng xã, phường, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban dân chúng cấp xã) nơi có đất xác nhận quy mô nhiều hơn là do khai thác hoặc nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng bình ổn và không có tranh chấp thì được bồi hoàn theo quy mô đo đạc thực tiễn.

4. Đối với phần quy mô đất nhiều hơn quy mô đất ghi trên giấy má về quyền sử dụng đất mà quy mô đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm giữ mà có thì không được bồi hoàn về đất.

5. Việc bồi hoàn về của cải gắn liền với đất trong trường phù hợp đất thu hồi quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này thực hành theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định này.

Như vậy, quy định của luật pháp là khi bồi hoàn, hỗ trợ bồi hoàn về đất thì phải tiến hành đo đạc lại quy mô đất đang sử dụng trên thực tiễn, việc cán bộ xã không tiến hành đo đạc lại là sai quy định luật pháp. Theo khoản 2 Điều 12 Nghị định 47/2014 thì các bác bỏ sẽ được tiền bồi hoàn theo quy mô đo đạc thực tiễn bây giờ.

Thứ ba, Về quy mô đất do khai thác.

Diện tích đất do người dân khai thác thì thuộc diện người sử dụng không có các giấy má về quyền sử dụng đất. Quy định của luật pháp về vấn đề này như sau:

Điều 13. Bồi thường về đất cho người đang sử dụng đất mà không có giấy má về quyền sử dụng đất

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy má về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng thực quyền sử dụng đất, quyền chiếm giữ hữu nhà đất và của cải khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101 và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì được bồi hoàn về đất.

2. Trường phù hợp người có đất thu hồi được bồi hoàn bằng tiền thì số tiền bồi hoàn phải trừ khoản tiền trách nhiệm tài chính theo quy định của luật pháp về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.”

Khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định như sau:

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất bình ổn vào mục tiêu thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 04 tuần 7 năm 2004, nay được Ủy ban dân chúng cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được xác nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường phù hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sinh sản nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng thực quyền sử dụng đất, quyền chiếm giữ hữu nhà đất và của cải khác gắn liền với đất theo chế độ Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với quy mô đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; quy mô đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

b) Trường phù hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sinh sản nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng thực quyền sử dụng đất, quyền chiếm giữ hữu nhà đất và của cải khác gắn liền với đất theo chế độ thuê đất của Nhà nước đối với quy mô đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hành theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;

c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà đất, công trình xây đắp khác mà không được xác nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng thực quyền sử dụng đất, quyền chiếm giữ hữu nhà đất và của cải khác gắn liền với đất theo mục tiêu hiện trạng đang sử dụng như trường phù hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề xuất chuyển sang sử dụng vào mục tiêu phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục tiêu sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của luật pháp.”

Trong trường phù hợp , hộ gia đình sử dụng bình ổn trước ngày 01 04 tuần 07 năm 2004 vào mục tiêu thuộc nhóm đất nông nghiệp, trực tiếp sinh sản nông nghiệp và có xác nhận của UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì thuộc trường phù hợp đủ điều kiện được cấp giấy công nhận quyền sử dụng đất. Và nếu phục vụ được điều kiện trên, gia đình sẽ được bồi hoàn khi quốc gia thu hồi đất với quy mô bồi hoàn là 100% chứ không phải là 20% như cán bộ xã đã trình bày.

Như đã trình bày ở trên, nếu chứng minh được quy mô đất khai thác của mình là không có tranh chấp, bác bỏ và các hộ gia đình khác hoàn toàn sẽ được cấp giấy công nhận quyền sử dụng đất và được bồi hoàn 100% quy mô đo đạc thực tiễn.

Có thể thấy, cán bộ xã bác bỏ đã thực hành sai các quy định của luật pháp trong hoạt động bồi hoàn đất. Để bảo vệ cho lợi quyền của chính mình, các bác bỏ nên gửi đơn đề xuất giải quyết tranh chấp tại Ủy ban dân chúng cấp có thẩm quyền; hoặc khởi kiện tại Tòa án dân chúng có thẩm quyền theo quy định của luật pháp về tố tụng dân sự;

Trên đây là quan điểm tham vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý đối tượng mua hàng. Việc đưa ra quan điểm tham vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của luật pháp và thông báo do quý đối tượng mua hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tham vấn này là để các cá nhân, đơn vị tham khảo.

Trường phù hợp trong nội dung tham vấn có điều gì gây lầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông báo nêu trong nội dung tham vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được quan điểm phản hồi của quý đối tượng mua hàng.

Mọi vướng mắc bác bỏ vui lòng đàm đạo trực tiếp với phòng ban trạng sư tham vấn luật pháp trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: [email protected]để nhận được sự tham vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hiệp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận trạng sư đất đai.

Trả lời