Xem cách bài trí bàn thờ gia tiên (phần 2)

Bàn thờ là nơi khôn thiêng, thanh khiết, nên ngoài các đồ đoàn dùng để tế tự và trang trí, nhất định không được để vật dụng gì lên đó. Trung tâm của bàn độc là bát nhang, phía sau bát nhang là di ảnh của những người đã tắt thở.

Nếu nhà khá giả, trước di ảnh còn có đỉnh đồng để đốt trầm vào mỗi dịp lễ tết, cúng giỗ, đỉnh thường được chạm khắc long, lân, mai, trúc. Hai bên bát nhang phía trước là đôi chân đèn để thắp nến, có ý nghĩa biểu tượng cho đôi vầng nhật nguyệt, cũng để nói lên người chết nhưng vong linh của họ thì không tắt. Ở một số nơi địa điểm đôi chân đèn người ta dùng hai ngọn đèn dầu để thay thế.

Tường sau môi trường bàn độc ở nhà khá giả là hoành philiễn đối bằng Hán tự sơn son thếp quà, có nội dung nói lên công đức của người đã tắt thở. Ớ gia đình dân dã, đó là tranh thờ, thường là tranh bình dân vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư, cá chép vượt vũ môn hay các chữ như Phúc, Lộc, Thọ (bằng Hán tự).

Trong việc thờ cúng thánh sư có hai ngày quan yếu nhất, đó là ngày giỗ và ngày Tết. Ngày giỗ cúng đúng vào ngày mất (theo âm lịch) của người được thờ tự. Đây là dịp để con cháu hoài tưởng, thanh minh lòng hiếu hạnh với thánh sư. Đây còn là dịp để gia chủ đáp nghĩa với dòng tộc, hàng xóm từng chia| sẻ buồn vui, xấu số với gia đình mình, nên ngày giỗ thường được công ty tiệc tùng khá linh đình.

Ngày Tết cổ điển, ngoài ý nghĩa đưa năm cũ, đón năm mới, còn là dịp để mọi người ôn cố nhân tân và việc cúng kiến ông bà là lễ thức hàng đầu. Không khí Tết tới vối các gia đình khởi đầu từ việc trang trí bàn độc ông bà. Những đồ thờ được lau chùi, đánh bóng.

Mâm cúng ngày giỗ hay ngày Tết không đặt trực tiếp trên bàn độc mà đặt trên chiếc bàn thấp hơn kê trước bàn độc. Trước khi người chủ trì thờ tự cùng con cháu dâng hương, người ta còn đặt lên bàn độc ba ly nước, có ý nghĩa biểu tượng cho sự thanh khiết của trời đất và tinh hoa của mùa màng.

Ỷ môn

Ngoài bàn độc, người ta có che một chiếc màn gọi là ỷ môn. Khi cúng lễ xong, phải bỏ màn xuống để che tắt thở bàn độc, để một lát sau mới hạ cỗ bàn. ý nghĩa của hành động này theo quan niệm xưa “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, kính mời các vị thánh sư, ông bà về phổ biến hưởng vật phẩm do con cháu dâng cúng. Khi các ngài “ăn uống” phải che màn lại, để người ngoài không nhìn thấy.

Hoành phi

Xưa, mỗi khi nhà ai đó có việc trọng như: mừng nhà mới, vinh quy bái tổ, chúc thọ thầy, mẹ người theo Nho học thường tặng nhau đôi câu đôi quà sơn son thếp quà hoặc bạc, sang hơn thì tặng cả bức hoành. Còn bức hoành, cố nhiên bố cục theo chiều ngang thường treo ngay xà ngang gian giữa, ở phía trên câu đối. Hoành phiCâu đối luôn đi thành bộ, thành một chỉnh thể trong lối chơi chữ được người dân trăm họ ưa ưa chuộng từ lâu.

Ngưòi có của thường có hoành phi câu đối sơn son thếp quà. Thứ tới, nhà không đủ ngân lượng để thếp quà, thì vẫn nền son, nhưng chỉ thếp bạc thôi. Thứ dân xưa dù nghèo tới đâu cũng gắng sắm sanh một bức hoành phi trong nhà, thường thì gỗ tạp, hoặc mang cơi trầu, đĩa xôi nhờ thầy đồ viết cho mấy chữ vào giấy, cung kính mà treo trên bàn độc. Đó là bộc lộ lòng thành kính với Thánh hiền. Bức hoành phi là phần trước tiên, đặt trên cùng của bàn độc, cốt yếu tập thích hợp vào các nội dung: Công đức của thánh sư để lại, chí hướng của thánh sư, lời dặn dò của thánh sư với con cháu…

Khám thờ

Bàn thờ Gia Tiên theo phong tục vietnam xưa thì có Ngai thờKhám thờ.

Ngai thờ cao ngang ngực đặt trước khám thờ cao ngang mặt, trên Ngai thờ đặt Ngũ sự hoặc Thất sự. Ngũ sự gồm bát hương để ở giữa, hai chân đèn đặt hai bên, phía sau là độc bình cắm hoa đặt sau chân đèn bên trái và khay quả đặt sau chân đèn bên phải. Thất sự là gồm Ngũ sự cộng thêm đỉnh hương và đèn Thái cực, cách bày vẽ có khác chút đỉnh là đỉnh hương nằm giữa ngang chân đèn, bát hương đặt trước đỉnh hương và đèn Thái cực đặt sau đỉnh hương.

Khám thờ có cửa mở ra đóng lại bên trong đặt các linh vị thánh sư, ngay chính giữa khám thờ viết hai chữ “Thần Chủ”. Xưa khi lập bàn độc gia tiên, gia chủ sẵn sàng mọi thứ như trên và viết chữ “Thần Chủ” nhưng chữ “Chủ” thiếu một nét chấm, sau đó mời một vị quan có uy tín tới dùng son điền thêm nét chấm đó thì chữ Chủ mới đủ, lễ này gọi là khai hoa điểm nhãn.

Ngày nay, phần đông các gia đình không lập bàn độc, tất cả ngai rồng thờ và khám thờ được thay thế bằng tủ thờ. Tủ thờ có độ cao ngang mặt, đặt sát vách phía trên bày vẽ đồ thờ tự, phía dưới trong tủ chứa các vật dụng tác động rất một thể dụng. Nếu nhà trệt ít phòng thì đặt tủ thờ ngay phòng khách đối diện cửa ra vào, nếu có phòng thờ riêng thì sắp xếp cạnh phòng khách, đối diện tủ thờ phải có cửa sổ để lấy dương khí. Còn với nhà lầu thì đặt trên tầng cao nhất, đối diện tủ thờ cũng phải có cửa. Trên tủ thờ bày vẽ Ngũ sự hoặc Thất sự, sát vách đặt một ngai rồng cao có bài vị Cửu Huyền Thất tổ, hai bên ngai rồng đặt di ảnh của người thân.

Câu đối

Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm trình bày một ý chí, ý kiến, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên chú ý là từ đối ở đây có nghĩa là ngang nhau, thích hợp nhau thành một vài.

Bàn thờ

Thông thường thì bàn độc gia tiên được sắp xếp ở gian giữa của ngôi nhà cũng có thể sắp xếp gian bên ở bên trái từ ngoài sân nhìn vào. Những gia đình no đủ, quý phái thuộc lớp trung lưu thì đồ thờ gồm một bệ tam sự (môt cái đỉnh (lư), cặp chân đèn bằng đồng để cắm nến, hay một bộ Ngũ sự có thêm lọ độc bình, chân bệ để đèn. Nếu là bộ “thất sự” thì có thêm ống đựng hương, ống cắm đũa và một lư hương để trầm. Tất cả đều đúc bằng đồng. Những nhà khá giả còn có đôi hạc nhỏ cũng bằng đồng. Đồ thờ, nếu không col điều kiện sắm bằng đồng thì làm bằng gỗ một thể và thường sơn đỏ.

Thông thường người ta, chia gian thờ làm ba lớp. Lớp ngoài là phòng ban phản để mọi người tới làm lễ, không đặt phản thì để trống nền nhà, khi cần có thể bày thêm bàn ghế, hay chải chiếu. Lớp thứ hai là hương án, trên đặt bộ đồ Tam sự hay Ngũ sự, lớp thứ ba ở trong cùng, trên để khám sơn son, bài vị, hộp hay ống đựng tộc phả, khay đựng vật cúng, đài rượu và có thể có ảnh chân dung người quá cố

Bát hương

Bát hương làm bằng nhiều nguyên liệu khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là bằng kim khí: đồng, quà, bạc. Khi bốc bát hương mới phải khôn xiết chú ý, nhất tâm nhất niệm, trong lòng thanh tú, đừng có ý nghĩ vẩn đục. Trong Bát hương chỉ có cát trắng khô sạch, quà bạc, đá ngũ sắc, ghi rõ tổ họ.

Ngày 23 04 tuần chạp sau khi đưa ông Táo thì gõ các chân hương đem ra sân đốt thả ra sông, sau đó thu vén vệ sinh lại tủ thờ, không được dùng nước rửa, vì bàn độc mệnh Hỏa, Hỏa khắc Thủy, tới trưa ngày 30 04 tuần chạp mối cúng rước ông bà và khởi đầu thắp hương lại.

Điều cần chú tâm là nếu bày vẽ Thất sự thì ngọn đèn Thái cực luôn sáng. Khi bát hương tự hóa không được vội vã đổ nước vào, mà từ từ chuyển các vật dụng dễ cháy ra. Khi bát hương cháy hết, chuyển các địa điểm về như cũ. Bát hương cháy có hai loại: Hóa dương, vận tốc cháy nhanh, hóa âm, cháy từ từ. Tuỳ theo chừng độ cháy mà có thể dự đoán cát hung . Nếu bát hương cháy bị hỏng, cháy lan ra bàn độc thì tùy theo tình hình kinh tế của gia chủ mà thay bàn độc và bát hương mới.

Trả lời